23. Sớ Cúng Quan Thánh II

(Trung Huyền Nhật Nguyệt)

 

Nguyên văn:

 

伏以

忠懸日月、常照如在之英靈、氣作山河、永仰無窮之惠澤、一誠上達、寸念遙通。拜疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、本寺奉

佛聖修香獻供恭遇關聖帝君菩薩慶誕之辰、祈陰超陽泰事。今弟子...等、惟日拜干

聖德威光、俯鑒凡心。言念、忠肝廩廩、正氣堂堂、戰魏征呉、三國英雄、第一封金都印、千秋義氣無雙、在需在道在禪、人人瞻仰、護國護民護物、代代尊崇。茲者恭陳素品獻花筵、虔誠諷誦消災諸品神咒、集此善因、祈增福壽。今則謹具疏文、和南拜奏。

南無協天大帝漢室漢壽亭候關聖帝君菩薩證明。恭奉、靈官王天君太乙雷聲應天尊。九天輔元開化靈應張仙大帝七曲毓聖天尊。威顯武靈候關聖太子。馬前威勇公周大將軍。青龍赤兔二位將軍侍從部下一切威靈同垂炤鑒、共降吉祥。伏願、護國護其臣民、默賜崇成之福祉、在上在其左右、長瞻顯赫之威靈、匡扶弟子以平安、保護生人而吉慶。仰賴

聖慈證明。謹疏。

佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上疏

 

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ

Trung huyền nhật nguyệt, thường chiếu như tại chi anh linh; khí tác sơn hà, vĩnh ngưỡng vô cùng chi huệ trạch, nhất thành thượng đạt, thốn niệm dao thông.

Bái sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, bổn tự phụng Phật Thánh tu hương hiến cúng cung ngộ Quan Thánh Đế Quân Bồ Tát Khánh Đản chi thần, kỳ âm siêu dương thái sự. Kim đệ tử … đẳng, duy nhật bái can, Thánh đức uy quang, phủ giám phàm tâm.

Ngôn niệm: Trung can1 lẫm lẫm,2 chính khí đường đường; chiến Ngụy3 chinh Ngô,4 Tam Quốc5 anh hùng; đệ nhất phong Kim Đô Ấn, thiên thu nghĩa khí vô song; tại Nho tại Đạo tại Thiền, nhân nhân chiêm ngưỡng; hộ quốc hộ dân hộ vật, đại đại tôn sùng. Tư giả cung trần tố phẩm, dĩ hiến hoa diên, kiền thành phúng tụng Tiêu Tai Chư Phẩm Thần Chú, tập thử thiện nhân, kỳ tăng phước thọ. Kim tắc cẩn cụ sớ văn, hòa nam bái tấu:

Nam Mô Hiệp Thiên Đại Đế Hán Thất Hán Thọ Đình Hầu Quan Thánh Đế Quân Bồ Tát chứng minh.

Cung phụng: Linh Quan Vương Thiên Quân Thái Ất Lôi Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn.

Cửu Thiên Phụ Nguyên Khai Hóa Linh Ứng Trương Tiên Đại Đế Thất Khúc Dục Thánh Thiên Tôn.

Oai Hiển Võ Linh Hầu Quan Thánh Thái Tử.

Mã Tiền Uy Dũng Công Châu Đại Tướng Quân.

Thanh Long6 Xích Thố7 nhị vị Tướng Quân.

Thị tùng bộ hạ nhất thiết oai linh, đồng thùy chiếu giám, cọng giáng cát tường.

Phục nguyện: Hộ quốc hộ kỳ thần dân, mặc tứ sùng thành chi phước chỉ; tại thượng tại kỳ tả hữu, trường chiêm hiển hách chi oai linh. Khuôn phò đệ tử dĩ bình an, bảo hộ sanh nhân nhi cát khánh. Ngưỡng lại Thánh từ chứng minh, cẩn sớ.

Phật lịch … Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật ... thời.

Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

Trời trăng trung nghĩa, thường chiếu còn đó anh linh; núi sông khí tạo, mãi trông mong vô cùng ân huệ; lòng thành dâng thấu, tấc niệm thông xa.

Nay tại chùa … ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện …, Tỉnh …, nước Việt Nam, vâng lời Phật dạy, dâng hương cúng lễ, gặp dịp Khánh Đản Bồ Tát Quan Thánh Đế Quân, nguyện cầu âm siêu dương thái. Đệ tử chúng con …, hôm nay vái lạy, oai quang Thánh đức, chứng giám lòng phàm.

Nép nghĩ: Lòng trung lẫm liệt, khí phách đường đường; đánh Ngụy chinh Ngô, Tam Quốc anh hùng; đầu tiên phong Kim Đô Ấn, ngàn năm nghĩa khí vô song; nào Nho nào Lão nào Phật, người người chiêm ngưỡng; giúp nước giúp dân giúp vật, đời đời tôn sùng. Nay xin bày vật phẩm mọn, dâng cúng lễ trên, thành tâm trì tụng các phẩm Thần Chú Tiêu Tai Cát Tường, lấy nhân lành nầy, cầu thêm phước thọ. Nay xin dâng trọn sớ văn, thành kính thưa thỉnh:

Kính xin Bồ Tát Hiệp Thiên Đại Đế Hán Thất Hán Thọ Đình Hầu Quan Thánh Đế Quân chứng giám cho.

Cùng xin: Linh Quan Vương Thiên Quân Thái Ất Lôi Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn, Cửu Thiên Phụ Nguyên Khai Hóa Linh Ứng Trương Tiên Đại Đế Thất Khúc Dục Thánh Thiên Tôn, Oai Hiển Võ Linh Hầu Quan Thánh Thái Tử, Công Châu Đại Tướng Quân Uy Dũng trước ngựa, Thanh Long Xích Thố hai vị Tướng Quân, hết thảy bộ hạ theo hầu, chư vị oai linh, cùng thương chứng giám, ban cho cát tường.

Cúi mong: Giúp nước giúp chúng thần dân, ngầm ban cho phước lợi kính thành; ở trên hai bên phải trái, mãi chiêm ngưỡng hiển hách oai linh; gia hộ đệ tử được bình an, hộ trì người sống thêm tốt đẹp. Ngưỡng trông đức Thánh, thương xót chứng giám. Kính dâng sớ.

Phật lịch … Ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.

 

 

Phần chú thích:

  1. Trung can (忠肝): lòng trung thành.
  2. Lẫm lẫm (廩廩廪廪): dáng uy nghi đứng đắn, lẫm liệt.
  3. Ngụy (): (1) Nhà Ngụy (403-225 trước CN), tên của một trong 7 nước lớn dưới thời Chiến Quốc, cùng với Hàn (), Triệu () phân nhà Tấn () thời Xuân Thu làm ba và độc lập mỗi phương, chiếm cứ địa phương phía Tây Nam Tỉnh Sơn Tây và phía Bắc Tỉnh Hà Nam ngày nay, sau đó bị nhà Tần () tiêu diệt. (2) Nhà Ngụy (220-265), tên của một trong 6 triều đại, do Tào Phi (曹丕), con của Tào Tháo (曹操), kiến lập nên sau khi nhà Hậu Hán (後漢) cáo chung, thống trị phần nữa phía Bắc Trung Quốc, cùng với nhà Ngô () và Thục () thành lập thế trụ ba chân vạc, sau bị nhà Tấn () tiêu diệt vào năm 265 (nghĩa trong bài). (3) Vương quốc Bắc Triều (385-556) do Thác Bạt Khuê () thuộc dân du mục Tiên Ti (鮮卑) kiến lập dưới thời nhà Đông Tấn (東晉), còn gọi là Hậu Ngụy (後魏) hay Bắc Ngụy (北魏); về sau nước nầy phân liệt thành Đông Ngụy (東魏) và Tây Ngụy (西魏), trải qua 16 đời vua và kéo dài 172 năm.
  4. Ngô (呉・吳・吴): (1) Nhà Ngô do Thái Bá (泰伯) kiến lập dưới thời nhà Chu (), trải qua 25 đời vua, kéo dài 759 năm, sau bị nhà Việt () tiêu diệt vào năm 472 trước công nguyên. (2) Nhà Ngô (222-280) do Tôn Quyền (孫權) kiến lập dưới thời Tam Quốc, đóng đô ở Kiến Nghiệp (建業), trải qua 4 đời vua và kéo dài 60 năm, sau bị nhà Tấn () tiêu diệt vào năm 280 (nghĩa trong bài). (3) Nhà Ngô dưới thời Ngũ Đại, do Dương Hành Mật (楊行密) kiến lập, trải qua 4 đời vua và kéo dài 46 năm, sau bị Từ Tri Cáo (徐知誥) tiêu diệt vào năm 937. (4) Địa danh, ngày xưa là địa phương nước Ngô, nay là một dãy Tỉnh Giang Tô (江蘇省). (5) Tên gọi chung Trung Quốc ngày xưa. (6) Đồ vật mang từ Trung Quốc sang.
  5. Tam Quốc (三國): 3 nước phân chia thiên hạ làm ba phần và cạnh tranh lẫn nhau vào thế kỷ thứ 3, gồm nhà Ngụy (, 220-265) chiếm cứ lưu vực Hoàng Hà (黃河), nhà Ngô (, 222-280) hùng cứ hạ lưu Dương Tử Giang (揚子江) và nhà Thục (, 221-263) chiếm lĩnh thượng lưu Dương Tử Giang. Nó còn là tên gọi thời đại Tam Quốc.
  6. Thanh Long (青龍): tên gọi của cây đao báu được Quan Công thường đeo bên mình, còn gọi là Thanh Long Yển Nguyệt Đao (青龍偃月刀). Nhờ cây đao nầy, Quan Công đã từng tạo những chiến công hiển hách như chém Hoa Hùng (華雄), Phách Nhan Lương (劈顏良), Tru Văn Xú (誅文醜), v.v.; cho nên người Trung Quốc cũng thần thánh hóa và xem nó như là Tướng Quân Võ Thánh. Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa (三國演義), hai người con của Quan Công là Quan Hưng (關興) và Quan Sách (關索) cũng cầm cây đao nầy. Như trong bài thơ Quá Ngũ Quan Trảm Lục Tướng (過五關斬六將) có câu: “Quải ấn phong kim từ Hán tướng, tầm huynh diêu vọng viễn đồ hoàn, mã kỵ Xích Thố hành thiên lý, đao yển Thanh Long xuất ngũ quan (掛印封金辭漢相尋兄遙望遠途還馬騎赤兔行千里刀偃青出五關, treo ấn niêm phong thôi Hán tướng, tìm anh xa tít muôn dặm đàng, cỡi ngựa Xích Thố đi vạn nẻo, Thanh Long đao xếp ra cửa quan).” Sau nầy, khi điêu khắc hay tạc vẽ hình tượng của Quan Công đều có hình tay cầm cây Thanh Long Yển Nguyệt Đao nầy.
  7. Xích Thố (赤兔): tên gọi con ngựa do Quan Vũ cỡi lúc sinh tiền, còn gọi là Xích Thố Truy Phong (赤兔追風), như trong hồi thứ 27 của Tam Quốc Diễn Nghĩa (三國演義) có câu: “Mã kỵ Xích Thố hành thiên lí, đao yển Thanh Long xuất ngũ quan, trung nghĩa khái nhiên xung vũ trụ, anh hùng tùng thử chấn giang san (馬騎赤兔行千里刀偃青出五關忠義慨然沖宇宙英雄從此震江山, cỡi ngựa Xích Thố đi ngàn dặm, vung kiếm Thanh Long ra cửa quan, trung nghĩa hiên ngang xông vũ trụ, anh hùng từ đấy động giang san).” Tại Trung Quốc có một địa phương tên là Yên Chi Xuyên (胭脂川). Dưới thời Tam Quốc, loài ngựa Yên Chi Xích Thố (胭脂赤兔) vốn xuất phát từ địa phương nầy, tiếng đồn vang khắp mọi nơi. Con ngựa có màu sắc như lửa tro, chạy nhanh như con Ngọc Thố (玉兔, Thỏ Ngọc), nên mới có tên như vậy. Tương truyền rằng xưa kia vùng Yên Chi Xuyên nầy rừng núi thâm u, chim thú rất nhiều; đương thời có một người thợ săn sống tại đây để săn thú. Một hôm nọ, ông nghe một tiếng gầm rống giống như hổ gầm. Sáng mai thức dậy, ông lần theo dấu cỏ cây bị dẫm nát để tìm xem thử loại thú nào, chợt phát hiện một con ngựa hoang to lớn, thân nó cao 8 tấc, dài 1 trượng, màu như lửa tro, lưng cọp, vai gấu, mắt sáng quắc như cây đuốc, tiếng gầm như sấm sét, chạy nhanh như bay, qua sông vượt núi như đi trên đất liền. Ông thợ săn nghĩ rằng nếu bắt được loài ngựa truyền thuyết Xích Thố nầy tất sẽ được trọng thưởng. Sau khi dùng kế bắt được nó, ông đem dâng cho quan Huyện và lãnh thưởng. Quan Huyện lại đem con ngựa nầy dâng cho Đổng Trác (董卓, 138-192), rồi Đổng Trác cấp cho Đại Tướng Lữ Bố (呂布, ?-199). Sau khi Lữ Bố qua đời, Quan Vũ được ban cho con ngựa nầy.